Tìm hiểu về nhồi máu cơ tim

Mỗi năm, có hàng triệu người trải qua chứng bệnh nhồi máu cơ tim. Rất nhiều người trong số đó đã trở lại cuộc sống bình thường, tiếp tục làm việc và vui chơi. Chúng ta có thể tự tin rằng chúng ta có khả năng điều trị và phục hồi nếu có bị nhồi máu cơ tim. Bằng những biện pháp ăn uống và vận động hợp lý, chúng ta có thể hoàn toàn thoát khỏi chứng bệnh này. Tuy nhiên, việc tìm hiểu về nhồi máu cơ tim là không thừa, bởi mỗi năm có đến 2,5 triệu người chết do nhồi máu cơ tim, trong đó 25% chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh. Trong vòng năm sau đó chết thêm 5% – 10% nữa. Hãy cùng Khoa học 247 tìm hiểu về tình trạng bệnh lý này.

1. Nhồi máu cơ tim là gì?

Theo Wikipedia, nhồi máu cơ tim là tình trạng của một phần cơ tim bị hủy khi lượng máu cung cấp đến phần đó bị giảm sút. Tùy theo bao nhiêu cơ tim bị hủy, bệnh có thể nhẹ hoặc nặng. Nếu cơ chưa bị hủy hẳn thì gọi là “đau tim” (angina).

Các cơ tim cần có ô-xi để tồn tại và hoạt động. Tình trạng nhồi máu cơ tim diễn ra khi lượng máu mang ô-xi tới cơ tim bị giảm đột ngột hoặc bị ngừng lại hoàn toàn. Nguyên nhân của tình trạng này là do những động mạch vành chịu trách nhiệm đưa máu tới cơ tim bị thu hẹp lại do chất béo, cholesterol và những chất khác đóng thành mảng bên trong động mạch làm mạch hẹp lại đáng kể hoặc bị nghẽn. Khi những mảng đóng bên trong mạch máu bị vỡ, một cục máu đông được hình thành xung quanh chỗ vỡ ấy và có thể làm nghẽn mạch máu. Khi đó, các cơ tim không nhận được ô-xi cùng các dưỡng chất, do đó xảy ra tình trạng thiếu máu cục bộ. Một phần cơ tim sẽ bị phá huỷ và đó chính là tình trạng nhồi máu cơ tim.

Nguyên nhân của nhồi máu cơ tim là do những động mạch vành chịu trách nhiệm đưa máu tới cơ tim bị thu hẹp lại do chất béo, cholesterol và những chất khác đóng thành mảng bên trong động mạch làm mạch hẹp lại đáng kể hoặc bị nghẽn

Nguyên nhân của nhồi máu cơ tim là do động mạch vành chịu trách nhiệm đưa máu tới cơ tim bị thu hẹp lại do chất béo, cholesterol và những chất khác đóng thành mảng bên trong động mạch làm mạch hẹp lại đáng kể hoặc bị nghẽn

2. Các triệu chứng của nhồi máu cơ tim

Nhồi máu cơ tim không có những triệu chứng rõ rệt. Nhiều trường hợp nhồi máu cơ tim lại có biểu hiện không rõ ràng như tiêu chảy, đau bụng, hoặc chẳng hề có triệu chứng (nhồi máu cơ tim thầm lặng – thấy nhiều trong các bệnh nhân đái tháo đường), hoặc lại hết sức đột ngột, biểu hiện bằng biến chứng hôn mê, rối loạn nhịp tim, ngừng tim hay chết bất ngờ,… Tuy nhiên, vẫn có những triệu chứng điển hình và thường gặp nhất của nhồi máu cơ tim là:

  • Đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5–15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ.
  • Cơn đau có thể lan lên vai, cổ, hàm hoặc lan dọc theo cánh tay, đặc biệt là tay trái.
  • Các triệu chứng phụ như: vã mồ hôi, buồn nôn, chóng mặt, bất tỉnh, mệt nhọc, khó thở, tái nhợt, tim đập mạnh.
Đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5–15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ

Triệu chứng của nhồi máu cơ tim là đau ngực: với cảm giác đau như bị đè ép, bóp chặt ở giữa ngực, diễn ra trong khoảng 5–15 phút (khác về thời hạn và độ đau với cơn đau ngực thông thường), thường không quá 1 giờ

3. Phục hồi sau nhồi máu cơ tim

Khi tình trạng nhồi máu cơ tim diễn ra, phần cơ tim bị mất nguồn cung cấp máu sẽ bắt đầu bị tổn thương. Mức độ tổn thương của cơ tim tuỳ thuộc vào mức độ cung cấp máu của động mạch bị tắc cũng như khoảng thời gian mà động mạch này bị tắc (từ khi bị tắc cho đến khi được can thiệp về y tế). Những tổn thương ở cơ tim này có thể lành lại bằng cách hình thành những nốt sẹo. Thường là cơ tim sẽ lành lại sau vài tuần (nhiều nhất là 8 tuần) nếu được điều trị tích cực.  Trái tim là một bộ phận “kiên cường” của cơ thể. Mặc dù một phần của bộ phận này bị tổn thương nhưng phần còn lại vẫn đảm bảo hoạt động. Nhưng trong thời gian đó, trái tim sẽ hoạt động yếu hơn, lượng máu được bơm đi sẽ ít hơn. Sau khi bị nhồi máu cơ tim, nếu có những điều trị tích cực, lối sống đúng đắn thì sẽ hoàn toàn ngăn ngừa được tình trạng này tái diễn.

Sau khi bị nhồi máu cơ tim, bệnh nhân hoàn toàn có thể hồi phục nhưng sẽ phải tuân theo những chỉ định về dùng thuốc, về chế độ ăn uống, lối sống để bảo vệ trái tim trong tương lai. Sau khi qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu của nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần nằm một thời gian (2–3 ngày) trong đơn vị điều trị tim hoặc đơn vị điều trị tăng cấp đề phòng để chữa kịp thời những biến chứng như loạn nhịp tim. Trong thời gian hồi phục sau khi xuất viện, bệnh nhân nên tránh hoạt động quá sức, mang vác vật nặng… khoảng một vài tháng, tránh hồi hộp, căng thẳng, xúc động mạnh (không xem bóng đá, phim kinh dị…). Nhiều địa phương cấm lái xe vài tuần.

Đa số bệnh nhân sẽ phải tiếp tục dùng thuốc điều trị tránh bị nhồi máu cơ tim lần nữa và những bệnh tương tự như tai biến mạch máu não. Thuốc dùng cho điều trị sau nhồi máu cơ tim là:

  • Aspirin: liều thấp, cần theo dõi tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (loét dạ dày, tá tràng, rối loạn tiêu hóa), những trường hợp mẫn cảm với Aspirin có thể dự phòng bằng các sản phẩm giúp phòng nhồi máu cơ tim khác (Vasopolis)
  • Clopidogrel
  • Thuốc ngăn β
  • Thuốc ngăn ACE
  • Thuốc giảm mỡ máu

4. Nguyên nhân chính gây ra nhồi máu cơ tim

Sáu đối tượng sau đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao về nhồi máu cơ tim.

  • Những người nghiện thuốc lá
  • Những người có lượng cholesterol trong máu cao
  • -Những người có huyết áp cao
  • Những người lười vận động
  • Những người béo phì
  • Những người tiểu đường

Trong đó, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu bởi nó ảnh hưởng đến trái tim một cách đa dạng và nó cũng đồng thời thúc đẩy những nguyên nhân còn lại diễn ra nhanh hơn.

  • Hút thuốc lá gây bệnh cao huyết áp: Trong vòng vài phút hút thuốc, nhịp tim bắt đầu tăng. Nhịp tim có thể tăng cao tới 30 phần trăm và trở lại bình thường trong 10 phút hút thuốc. Để phản ứng lại sự kích thích này mạch máu co bóp lại buộc tim phải hoạt động nhiều hơn để luân chuyển ô xy. Việc hút thuốc lặp lại không chỉ làm tăng huyết áp mà còn biến đổi huyết áp.  Khi huyết áp tăng thì bản thân hiện tượng này đã gây bệnh tim và nguy hiểm hơn là tăng huyết áp cao dẫn tới ảnh hưởng nghiêm trọng tới tim.
  • Hút thuốc lá gây đau thắt ngực và đau tim: Đau thắt ngực hay còn gọi là chứng thiếu máu cục bộ do giảm lượng máu cung cấp tới tim. Hút thuốc thời gian dài gây tổn thương lớp nội mạc mạch máu, dẫn tới  sự co thắt mãn tính cho mạch máu. Mạch máu bị tác động sẽ dễ hình thành mảng bám. Tạo điều kiện mảng bám hình thành các cục máu và cản trở động mạch và gây ra đau tim. Nếu cơ tim không nhận đủ khí ô xy trong suốt thời gian co bóp thì một phần cơ tim có thể tê liệt, kết quả là gây”đau tim”.
  • Hút thuốc lá khiến người ta lười vận động: Nhịp tim của người hút thuốc có xu hướng nhanh hơn, lưu thông máu kém và khó thở hơn – không phù hợp với hoạt động luyện tập thể dục thể thao.

Vậy, hút thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra nhồi máu cơ tim nhưng lại là nguyên nhân hoàn toàn có thể phòng tránh được.
Những nguyên nhân còn lại như béo phì, lười vận động, tiểu đường,… hoàn toàn có thể hạn chế và khắc phục thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống năng động, tích cực.

thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra nhồi máu cơ tim nhưng lại là nguyên nhân hoàn toàn có thể phòng tránh được. Những nguyên nhân còn lại như béo phì, lười vận động, tiểu đường,... hoàn toàn có thể hạn chế và khắc phục thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống năng động, tích cực

Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra nhồi máu cơ tim nhưng hoàn toàn có thể phòng tránh được. Những nguyên nhân còn lại có thể hạn chế và khắc phục thông qua chế độ dinh dưỡng hợp lý, lối sống năng động

Có rất nhiều cách để bảo vệ trái tim của bạn khỏi những nguy cơ mắc bệnh nguy hiểm, nhất là nhồi máu cơ tim, căn bệnh đang đứng hàng đầu về tỉ lệ tử vong trên thế giới. Nhưng không có biện pháp nào hiệu quả, phù hợp và dễ tiến hành hơn là một chế độ sống lành mạnh, khoa học và hợp lý. Chúc các bạn thành công.

SOC @ Khoa học 247., Biên soạn

Authors

Related posts

*

Top